Biểu tượng độc đáo của chim Én trong đời sống người Tày, Nùng

Chim Én là loài chim sống di cư, bay nhanh, khoẻ, hình dáng đẹp. Với người Việt, từ lâu chim Én đã đi vào thơ ca như một biểu tượng bất diệt của mùa Xuân. Riêng đối với những người dân tộc Tày, Nùng, chim Én là biểu tượng cổ kính, giàu tính ẩn dụ, gắn liền với những yếu tố tâm linh cũng như cuộc sống thường nhật.

Trong tang lễ của người Tày, Nùng hình chim Én không thể thiếu trên áo, mũ cũng như trên bàn thờ tổ của các thầy mo, thầy then..., và trong những cây hoa, cây tiền dâng cho người quá cố. Chim Én là loài chim thiêng, là sứ giả, cầu nối giữa mường đất với mường trời, nối người trần với tổ tiên, thần thánh. Chim Én được ví như những chuyên cơ chuyên vận chuyển mọi thông tin của người trần đến tổ tiên, thần thánh, mọi thông tin từ mường trời đến mường trần và ngược lại. 

Chim Én là biểu tượng của sự trường tồn, tuy chúng có thân hình nhỏ bé, mỏng manh nhưng sức dẻo dai và tuổi thọ cao mà không có loài chim nào sánh bằng. Ngoài ra, chim Én còn là biểu tượng của sự bình an, tốt lành, nơi đâu chim Én xuất hiện là nơi đó có niềm vui, điều lành. Chính vì vậy, chim Én thường làm tổ trong nhà, chung sống cùng con người một cách hoà bình thân thiện.

Chim Én còn là sứ giả của tình yêu. Vào những dịp Tết xưa, trai gái người Tày, Nùng có trò đánh cầu lông làm bằng lông gà, nhưng trò đó gọi là trò “Đánh Én” (tức đánh yến). Chim Én bay báo mùa Xuân đã đến - mùa đẹp nhất cho yêu đương, cưới hỏi. Chim Én bay qua bay lại giữa đôi trai gái như chiếc thoi dệt tình yêu. Thủơ xưa, người ta còn coi chim Én là biểu tượng của mặt trời mùa Xuân. Cầu lông - chim Én lên, xuống nhịp nhàng bên gái, bên trai thể hiện mặt trời mùa Xuân mọc - lặn đều đặn phía Đông, phía Tây cho ngày bằng đêm, cho đất trời ấm áp, vạn vật sinh sôi… Trong ngày xuân, trai gái cùng đi chơi, trẩy hội gặp các thầy mo, thầy then..., nhờ chim Én nói hộ chuyện vợ chồng, hạnh phúc tương lai.

Trong tâm thức của người Tày, Nùng, chim Én còn là biểu tượng cho tình yêu đôi lứa. Chim Én xuất hiện trên phong slư - bức thư tình viết bằng chữ Nôm Tày - Nùng thể thơ lục bát hoặc thể thơ 5 chữ, 7 chữ trên tấm vải trắng, quanh tấm vải thêu hình bướm hoa, rồng phượng, én ương. Bức thư với những câu từ tha thiết, như: Ẻn hợi! Ẻn pích lương/Loàn hợi! Loàn pích đáo/Ẻn hợi! Lồng thâng kác pỉ toan/Loàn hợi! Lồng chang chàn pỉ cạ/Pỉ mì cần táng xạ vuồn slương/Nhở Ẻn chẩư slư pây hử chài/Én hợi! Liền tốp pích bên pây/Bên mừa lộn phả mươi, phả moóc/Bên mừa thâng sluôn boóc rườn nàng... (Tạm dịch: Én hỡi! Én cánh vàng/Loan hỡi! Loan cánh đào/Én hỡi! Bay tới gác anh nhờ/Loan hỡi! Đậu xuống sàn anh bảo/Anh có người khác xứ nhớ thương/ Nhờ én mang thư xuân tới đó/Én hỡi! Hãy vỗ cánh bay đi/Bay tới vườn hoa trước nhà nàng/Đậu xuống vai người thương đợi cửa/Én hãy trao thư tới tay nàng…).

Vào dịp Tết tháng Giêng, người Tày, Nùng gói bánh chưng bằng lá dong, tua lá được cắt tỉa hình đuôi én gọi là bánh đuôi én. Tết Rằm tháng Bảy, người Tày, Nùng làm bánh lá gai cắt tua hình đuôi én, rồi cặp thành từng đôi, từng đôi, khi treo những cặp bánh trên sào hoặc trên dây trông giống như đàn chim Én đang đậu rất đẹp mắt. Cửa sổ nhà người Tày, Nùng xưa thường chạm khắc hình chim Ưng, chim Én.

Biểu tượng chim Én trong văn hóa dân gian người Tày, Nùng vừa mang những nét chung thống nhất của biểu tượng chim Én trong tư duy của nhân loại nhưng cũng vừa mang những nét riêng độc đáo.

Theo Baocaobang.vn