Chiến dịch Điện Biên Phủ - Đỉnh cao nghệ thuật quân sự Việt Nam

Ngày 7/5/1954 đã đi vào lịch sử của dân tộc Việt Nam và thế giới với chiến thắng Điện Biên Phủ lừng lẫy năm châu, chấn động địa cầu.
    Lá cờ chiến thắng tung bay trên nóc hầm tướng Đờ Cát-xtơ-ri. Ảnh: T.L

    Ngay từ cuối năm 1953 đầu năm 1954, khi bắt đầu triển khai Kế hoạch Na-va, phát hiện sự di chuyển của quân ta lên hướng Tây Bắc, tướng Henri Navarre đã quyết định tăng cường lực lượng và xây dựng Điện Biện Phủ thành tập đoàn cứ điểm mạnh. Theo đánh giá giới quân sự Pháp và Mỹ thì Điện Biên Phủ ở vị trí chiến lược quan trọng chẳng những đối với chiến trường Đông Dương mà còn đối với Đông Nam Á. Bởi vậy, thực dân Pháp đã điều động và bố trí lực lượng ở Điện Biên Phủ lúc cao nhất lên đến 16.200 quân cùng nhiều vũ khí, phương tiện chiến tranh, tại 49 cứ điểm với 3 phân khu: Phân khu Bắc, Phân khu Nam và Phân khu Trung tâm.

    Trước âm mưu và hành động mới của địch, ngày 6/12/1953, Bộ Chính trị tổ chức cuộc họp để nghe Tổng Quân ủy báo cáo và duyệt lần cuối kế hoạch tác chiến Đông - Xuân 1953 - 1954, đồng thời quyết định mở Chiến dịch Điện Biên Phủ. Đánh giá tầm quan trọng của chiến dịch này, Chủ tịch Hồ Chí Minh nhấn mạnh: “Chiến dịch này là một chiến dịch rất quan trọng không những về quân sự mà cả chính trị, không những đối với trong nước mà đối với quốc tế. Vì vậy, toàn quân, toàn dân, toàn Đảng phải tập trung hoàn thành cho kỳ được”.

    Để tạo điều kiện thuận lợi cho trận quyết chiến chiến lược Điện Biên Phủ, song song với công tác chuẩn bị được tiến hành khẩn trương, Bộ Tổng Tư lệnh quyết định mở  5 đòn tiến công chiến lược vào Lai Châu, Trung Lào, Hạ Lào - Đông Bắc Cam-pu-chia, Bắc Tây Nguyên và Thượng Lào. Qua đó, ta vừa tiêu diệt sinh lực địch, giải phóng đất đai, vừa buộc địch phải phân tán lực lượng, Kế hoạch Na-va không thực hiện được theo dự kiến, muốn tập trung nhưng lại buộc phải phân tán binh lực, muốn giành quyền chủ động nhưng càng bị động đối phó.

    Trước tình hình mới do sự tăng cường của địch ở Điện Biên Phủ, sự bố trí lực lượng, trận địa của địch đã thay đổi, đặc biệt là quán triệt nguyên tắc chỉ đạo của Trung ương Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh “đánh chắc thắng”, tại cuộc họp Đảng ủy Mặt trận, Đại tướng Võ Nguyên Giáp quyết định chuyển phương châm tác chiến từ “đánh nhanh, giải quyết nhanh” sang “đánh chắc, tiến chắc”. Đây là một quyết định khó khăn nhất, nhưng là một chủ trương kịp thời, chính xác, phù hợp với thực tế toàn chiến trường và tình hình cụ thể của mặt trận. Lực lượng của ta tham gia chiến dịch với số quân chủ lực khoảng 40.000 người, nếu tính cả tuyến hai thì quân số lên tới 55.000 người. Lực lượng phục vụ chiến dịch có: 628 ô tô vận tải, 21.000 xe đạp thồ, 261.500 dân công cùng nhiều tàu thuyền, lừa ngựa…  Sau khi công tác chuẩn bị mọi mặt đã hoàn thành, thế trận chiến dịch được triển khai xong, các đơn vị sẵn sàng nổ súng. Đợt 1 (từ ngày 13 - 17/3/1954): 16 giờ ngày 13/3, pháo binh ta bắn chi viện cho Đại đoàn 312 tiến công Him Lam. 17 giờ ngày 13/3, Chiến dịch Điện Biên Phủ bắt đầu. Đây là trận đánh then chốt mở màn chiến dịch có sự hiệp đồng binh chủng đạt hiệu suất chiến đấu cao, góp phần phá vỡ tuyến phòng thủ ngoại vi của địch, tạo thế uy hiếp trung tâm Mường Thanh từ hướng Bắc và Đông Bắc. Đợt 2 (từ ngày 30/3 - 30/4/1954), tiến công vào các cứ điểm phía Đông. Sau 5 ngày chiến đấu, ta đã chiếm được các cứ điểm E, D1, D2, C1, 106 và 311, thu hẹp phạm vi chiếm đóng, gây tổn thất cho lực lượng của địch. Đợt 3 (từ ngày 1 - 7/5/1954), ta đồng loạt tiến đánh nhiều vị trí: cứ điểm C1, C2, 505, 505A, 311A, Phân khu Hồng Cúm, Sở Chỉ huy Tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ, A1. Đến 17 giờ 30 phút ngày 7/5, Đờ Cát-xtơ-ri cùng toàn bộ Bộ tham mưu Tập đoàn cứ điểm bị bắt sống. Chiến dịch Điện Biên Phủ toàn thắng.

    Trải qua 56 ngày đêm chiến đấu kiên cường và anh dũng trong điều kiện “khoét núi ngủ hầm, mưa dầm cơm vắt, máu trộn bùn non, gan không núng, chí không mòn…”, quân và dân ta đã loại khỏi vòng chiến đấu 16.200 sinh lực địch, thu toàn bộ vũ khí, trang bị quân sự, bắn rơi nhiều máy bay; xóa sổ hoàn toàn tập đoàn cứ điểm quân sự mạnh nhất Đông Dương của Quân đội Pháp.

    Thắng lợi của Chiến dịch Điện Biên Phủ là sự phát triển đến đỉnh cao của nghệ thuật quân sự, nghệ thuật chiến dịch Việt Nam trong kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược, góp phần đánh bại Kế hoạch Na-va, làm tiêu tan hy vọng của Pháp và can thiệp Mỹ hòng xoay chuyển cục diện chiến tranh Đông Dương; đồng thời tạo nên bước ngoặt vĩ đại trong lịch sử cách mạng Việt Nam, quyết định đến việc ký Hiệp định Giơ-ne-vơ về lập lại hòa bình ở Việt Nam, Lào và Cam-pu-chia. Đó là một mốc vàng chói lọi trong lịch sử dựng nước và giữ nước của dân tộc Việt Nam.

    Điện Biên Phủ là một trong những trận quyết chiến chiến lược trong lịch sử Việt Nam, là đòn tiến công tiêu diệt lớn nhất của quân đội ta, quyết định “số phận” quân đội viễn chinh Pháp trong cuộc chiến tranh Đông Dương. Chiến thắng đó không những là minh chứng hùng hồn cho sức mạnh, tính sáng tạo và độc đáo của chiến tranh nhân dân Việt Nam thời đại Hồ Chí Minh, tầm nhìn chiến lược của Bộ Chính trị và Chủ tịch Hồ Chí Minh, sự chủ động, sáng tạo của Tổng Quân ủy và Bộ Tổng tư lệnh, trực tiếp là Đảng ủy và Bộ Chỉ huy chiến dịch, mà còn thể hiện tinh thần chiến đấu mưu trí, dũng cảm, ngoan cường của quân và dân ta.

    Thắng lợi của Chiến dịch Điện Biên Phủ khẳng định sự trưởng thành vượt bậc của Quân đội nhân dân Việt Nam. Đây là cơ sở quan trọng để toàn Đảng, toàn quân và toàn dân ta vững tin dám đánh, quyết đánh và đánh thắng Mỹ, giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất đất nước. Chiến thắng Điện Biên Phủ đã lùi sâu theo dòng chảy của thời gian nhưng ý nghĩa và giá trị lịch sử của nó vẫn còn nguyên giá trị đối với dân tộc Việt Nam và cả nhân loại yêu chuộng hòa bình trên thế giới.             

     

    Theo baocaobang.vn