Người sáng lập Then tính Cao Bằng

Hát then - Đàn tính (gọi tắt là Then tính) là loại hình dân ca đặc sắc nhất của Cao Bằng, bắt nguồn từ cuộc sống lao động tập thể cộng đồng của người Tày cổ. Người sáng lập ra Then tính miền Tây (còn gọi là pựt - Then nữ) là Tư thiên quản nhạc - Trạng nguyên Bế Văn Phụng, người lập ra Then tính miền Đông (còn gọi là giàng - Then nam) là nghệ nhân tài hoa Nông Quỳnh Văn.

dieu%20then%20copy

Ngọt ngào làn điệu Then

Then tính hai miền gắn với giai đoạn lịch sử khoảng 100 năm khi nhà Mạc ở Cao Bằng. Cuối thế kỷ XVI, tập đoàn phong kiến Lê - Trịnh và nhà Mạc tranh ngôi vị. Do yếu thế, nhà Mạc lên Cao Bằng chiếm cứ đặt kinh đô ở Cao Bình từ đời Quang Hưng 1594, đến đời Vĩnh Trị, mất ngôi vào năm 1677, tàn dư quân Mạc vẫn tồn tại đến năm 1744. Nhà Mạc ở Cao Bằng trải qua 3 đời vua, bắt đầu từ Mạc Kính Cung (1593 - 1625), Mạc Kính Khoan (1626 - 1638), Mạc Kính Vũ (1639 - 1677).

Trong cảnh hàn vi, ly tán, vua Mạc Kính Cung buồn phiền nên phát bệnh ốm đau liên miên, thái y chữa không khỏi. Lúc đó, có một người giỏi văn chương, chữ nghĩa là Bế Văn Phụng ở làng Bản Vạn, châu Thạch Lâm (nay là xã Bế Triều, huyện Hòa An) được nhà Mạc tuyển dụng và tiến cử Trạng nguyên, phong làm Tư thiên quản nhạc của triều đình. Để khuây khỏa nỗi ưu phiền đang bao trùm lên triều đình, Bế Văn Phụng đã dày công viết nên tác phẩm "Tam Nguyên luận" nổi tiếng với 800 trang và lập ra đội Then tính nữ (còn gọi là đội Then bụt, pựt, vỉt) đến hát, múa. Tác phẩm kể chuyện chiêm tinh, hết bĩ cực đến thái lai, hết suy đến thịnh, bàn luận kế sách, tiên đoán về tương lai, viết theo thể thơ thất ngôn trường thiên rất thuận cho trình diễn hát then, đàn tính. Đội Then tính nữ thường xuyên luyện tập, hằng ngày trình diễn phục vụ triều đình nhà Mạc.

Thời ấy, ở xã Nga Ổ, châu Thượng Lang (nay là xã Chí Viễn, huyện Trùng Khánh) có nghệ nhân Nông Văn Noọng (tức Nông Quỳnh Văn) nổi tiếng tài hoa, biết rộng, hiểu nhiều, được nhân dân địa phương mệnh danh là "Phùa Cá đang" nghĩa là vua quạ khoang, ý nói là người hát hay, giỏi thơ, văn, thích ngao du sơn thủy, đến đâu cảnh thiên nhiên hữu tình là có thơ đến đấy. Nông Quỳnh Văn là tác giả của tác phẩm “Lượn Ba chu” (Ba châu) và tác phẩm nổi tiếng "Tứ quý hồng nhan" tuyệt hay, dành cho nam, nữ thanh niên hát lượn Then. Ông được nhân dân địa phương tôn sùng là trạng nguyên, tài danh lan truyền khắp các nơi trong tỉnh.

Bế Văn Phụng và Nông Quỳnh Văn biết về nhau trong tiếng lành đồn xa và luôn mong sớm được gặp nhau để hàn huyên, tâm sự. Trong dân gian lưu truyền câu chuyện họ gặp nhau ngẫu nhiên trên đỉnh đèo Mã Phục, nơi ranh giới của miền Tây và miền Đông theo sự phân chia địa hình và tiểu vùng khí hậu. Trong một chuyến đi, đến đỉnh đèo, Bế Văn Phụng và đoàn tùy tùng dừng chân nghỉ, tình cờ gặp Nông Quỳnh Văn và tiểu đồng đang dắt ngựa theo. Mới quen biết mà đã thân tình, họ cùng tâm đắc về văn chương và nghệ thuật hát then, đàn tính, Bế Văn Phụng tha thiết mời Nông Quỳnh Văn vào cung đình cùng phụng sự triều Mạc. Là Tư thiên quản nhạc, xem trọng nhân tài, nên Bế Văn Phụng coi Nông Quỳnh Văn như người bạn thân thiết, tri kỷ, hai người đã kết “bạn tồng”. Nông Quỳnh Văn xúc động trước đức độ của Bế Văn Phụng, tuy làm quan trong triều đình mà ứng xử bằng hữu với mình. Không ai biết trước rằng, cuộc gặp mặt ấy đã đặt dấu mốc quan trọng sinh ra dòng Then nam bên cạnh dòng Then nữ. Những ngày tháng kề vai sát cánh bên Bế Văn Phụng, Nông Quỳnh Văn đã lập nên đội Then tính nam (còn gọi là đội Then giàng), thường xuyên cùng vào hát, múa phục vụ cung đình nhà Mạc, được vua quan trong triều tâm đắc, ngợi khen. Dần dần Mạc Kính Cung khỏi bệnh, vương triều như cởi được “gông xích” tinh thần, làm thanh thoát tâm tưởng, con người trở nên mạnh mẽ, phóng khoáng; tiếng Then tính cũng càng ngọt lành, bay xa, được mọi người nâng niu, quý trọng. Then tính vào cung đình nhà Mạc đã góp phần tạo nên sự giao thoa mạnh mẽ giữa hai luồng văn hóa kinh đô đồng bằng và miền núi. Đó là quá trình được nâng cao về nghệ thuật trình diễn, tạo nên hai dòng Then nữ và Then nam, là món ăn tinh thần không thể thiếu của nhân dân Cao Bằng.

Trong trình diễn, nghệ nhân hát Then không bao giờ tách rời đàn tính, nếu thiếu một trong hai yếu tố đó đều không thể gọi là Then tính. Cây đàn tính cũng thể hiện sự khác nhau giữa hai dòng then. Người Tày có câu: "Tính pựt tính slam slai/Tính sloong slai tính giàng", nghĩa là tính bụt là tính ba dây, tính hai dây là tính giàng; hay như câu: "slam căm tẩu, cẩu căm gàn", nghĩa là đường kính bầu đàn bằng ba nắm tay ngang, thân đàn bằng chín nắm tay, đó là cây đàn tính nam. Đàn tính nam mắc hai dây, đàn tính nữ ba dây (dây tiền, dây hậu, dây trung), dây trung thấp hơn dây tiền một quãng để đàn thêm ấm tiếng. Toàn bộ cây đàn toát lên vẻ giản dị, thanh cao mà âm thanh của nó khi ngân lên làm đắm say lòng người.

Khi triều Mạc tan rã, cây đàn tính ba dây theo nghệ nhân nữ trở về vùng quê Hòa An và các huyện miền Tây, còn nghệ nhân nam cùng cây đàn tính hai dây về quê hương Trùng Khánh và các huyện miền Đông. Dường như chẳng nơi nào có được hai dòng Then như Cao Bằng. Đặc biệt, chất liệu nghệ thuật then tính đã phát triển ở mức cao. Then tính miền Tây dịu ngọt, mềm mại, dung dị như người thiếu nữ dung nhan “nghiêng nước, nghiêng thành”. Đối lại, Then tính miền Đông cất lên mạnh mẽ, trải lòng miên man, giai nhịp rộn ràng khúc tứ như chàng trai tuấn tú tài ba, hào phóng. Từ sự hiểu biết về Then tính ở cung đình, các ca sĩ, pháp sư đã truyền dạy cho bao lớp học trò làm mo then, giàng, đời nọ tiếp đời kia cho đến ngày nay, họ vẫn thờ tổ sư Bế Văn Phụng và Nông Quỳnh Văn.

Theo baocaobang.vn