Thành tựu 40 năm sau giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước

Cuộc Tổng tiến công và nổi dậy mùa Xuân năm 1975 thắng lợi, kết thúc 21 năm kháng chiến chống đế quốc Mỹ xâm lược của quân và dân ta, mở ra kỷ nguyên mới độc lập tự do, cả nước đi lên xây dựng chủ nghĩa xã hội (CNXH).

 

 

 Thành phố Cao Bằng đổi mới. Thành phố Cao Bằng đổi mới.

Từ sau Đại thắng mùa xuân 1975 đến nay, đất nước ta đã trải qua 40 năm xây dựng và phát triển, đã giành được nhiều kết quả, thành tựu to lớn trong phát triển KT - XH. Hội nghị lần thứ 24, Ban Chấp hành Trung ương Đảng họp tháng 9/1975 đề ra nhiệm vụ hoàn thành thống nhất đất nước về mặt Nhà nước. Nghị quyết nêu rõ: “Thống nhất đất nước vừa là nguyện vọng tha thiết bậc nhất của nhân dân cả nước, vừa là quy luật khách quan của sự phát triển cách mạng Việt Nam, của lịch sử dân tộc Việt Nam”. Ngày 25/4/1976 cuộc Tổng tuyển cử bầu Quốc hội chung được tổ chức trên toàn quốc với hơn 23 triệu cử tri (98,8% tổng số cử tri) đi bầu. Quốc hội quyết định lấy tên nước là Cộng hoà Xã hội chủ nghĩa (XHCN) Việt Nam (từ 2/7/1976). Quốc kỳ là lá cờ đỏ sao vàng, Quốc ca là bài Tiến quân ca, Quốc huy là “Cộng hoà XHCN Việt Nam”, Hà Nội là thủ đô của Nước Cộng hoà XHCN Việt Nam, thành phố Sài Gòn đổi tên thành thành phố Hồ Chí Minh. Việc hoàn thành thống nhất đất nước về mặt Nhà nước đã tạo nên những điều kiện chính trị cơ bản để phát huy toàn diện sức mạnh phát triển đất nước, tạo điều kiện thuận lợi để cả nước đi lên CNXH, có những khả năng to lớn để bảo vệ Tổ quốc và mở rộng quan hệ với các nước trên thế giới.

Kinh tế đạt được nhiều thành tựu quan trọng, văn hoá - xã hội có bước tiến bộ rõ nét. Từ một nước nghèo nàn, lạc hậu, chịu hậu quả nặng nề của nhiều năm chiến tranh, lại bị bao vây cấm vận, Việt Nam đã vượt lên, phát triển kinh tế khá nhanh theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá, xây dựng kinh tế thị trường định hướng XHCN với nhiều thành phần kinh tế, nhiều hình thức sở hữu, tích cực và chủ động hội nhập quốc tế. Đất nước ta không những ra khỏi khủng hoảng KT - XH, phá được thế bao vây cấm vận, vượt qua những tác động tiêu cực của khủng hoảng tài chính tiền tệ khu vực và thế giới những năm 1997, 1998 và cuộc khủng hoảng tài chính, suy thoái kinh tế toàn cầu những năm gần đây mà vẫn giữ vững ổn định kinh tế vĩ mô. Hàng hóa trên thị trường dồi dào, đa dạng và lưu thông thuận lợi. Kinh tế đối ngoại phát triển mạnh, mở rộng hơn trước, góp phần quan trọng vào việc thực hiện các mục tiêu KT - XH. Mức tăng trưởng GDP bình quân 6 - 7%/năm, đặc biệt giai đoạn 1990 - 2000 đạt 7,5%; giai đoạn 2001 - 2005 đạt 7,51%, riêng năm 2006 là 8,23% và năm 2007 là 8,48%. Từ năm 2009 - 2014, tăng trưởng GDP lần lượt là 5,32%, 6,78%, 5,89%, 5,03%, 5,4%, 5,98%. 

Đời sống vật chất, tinh thần của nhân dân được cải thiện rõ rệt. Từ năm 2008, nước ta đã đạt mức thu nhập bình quân đầu người trên 1.000 USD, vượt qua ngưỡng nước nghèo chậm phát triển, trở thành nước đang phát triển có thu nhập trung bình. Đến năm 2014, thu nhập bình quân đầu người đạt xấp xỉ 2.000 USD. Tỷ lệ các hộ nghèo giảm từ 58% năm 1993 xuống còn 8% năm 2014. Chỉ số phát triển con người (HDI) thuộc nhóm trung bình cao của thế giới. Năm 2000, cả nước đã đạt chuẩn Quốc gia về xóa nạn mù chữ. Công tác chăm sóc sức khỏe nhân dân có tiến bộ, tuổi thọ của người dân ngày càng tăng. Phúc lợi và an sinh xã hội được coi trọng và từng bước mở rộng. Công tác chăm sóc thương binh, gia đình liệt sỹ, người có công với cách mạng được Đảng, Nhà nước và cả xã hội quan tâm. Sự nghiệp giáo dục có bước phát triển mới về quy mô, đa dạng hóa về loại hình trường lớp; khoa học công nghệ và tiềm lực khoa học công nghệ có bước phát triển nhất định; những giá trị văn hóa đặc sắc của dân tộc được kế thừa và phát triển, giao lưu hợp tác văn hóa với nước ngoài được mở rộng; chính sách phát triển nguồn nhân lực được chú trọng.

Hệ thống chính trị và khối đại đoàn kết toàn dân tộc được củng cố và tăng cường; chính trị - xã hội ổn định; độc lập chủ quyền Quốc gia được giữ vững.  40 năm qua, chúng ta đã bảo vệ được thành quả cách mạng, bảo vệ chế độ XHCN, giữ vững độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của đất nước, giữ vững vai trò lãnh đạo của Đảng, đẩy mạnh phát triển kinh tế, giữ vững an ninh chính trị và trật tự an toàn xã hội, củng cố lòng tin của nhân dân vào sự nghiệp đổi mới, nâng cao ý thức trách nhiệm, nghĩa vụ trong xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, xây dựng và phát triển tiềm lực quốc phòng theo hướng chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại.

Quan hệ đối ngoại ngày càng mở rộng, vị thế Việt Nam trên trường quốc tế không ngừng được nâng cao, xác lập được quan hệ ổn định với các nước lớn; có quan hệ ngoại giao với hơn 184 nước, quan hệ đối tác chiến lược với 13 nước, đối tác toàn diện với 11 nước, quan hệ kinh tế thương mại với hơn 200 nước và vùng lãnh thổ; là thành viên của nhiều tổ chức, diễn đàn quốc tế ASEAN, ASEM, APEC, WTO...; đang đàm phán tham gia TPP; chuẩn bị ký kết các hiệp ước của EU; tích cực tham gia giải quyết những vấn đề biên giới, lãnh thổ, biển đảo với các nước liên quan, góp phần giữ vững môi trường hòa bình khu vực và thế giới.

Đối với Cao Bằng, từ năm 1975 đến nay, Đảng bộ tỉnh luôn coi trọng củng cố, xây dựng hệ thống chính trị vững mạnh, đổi mới phương thức lãnh đạo, nâng cao hiệu lực điều hành của chính quyền, phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc, tổ chức, động viên nhân dân vượt qua mọi khó khăn thử thách, phấn đấu thực hiện hiệu quả các nhiệm vụ: khôi phục kinh tế sau chiến tranh, thực hiện xây dựng Đảng là then chốt, phát triển KT - XH là nhiệm vụ trọng tâm, tạo sự chuyển biến mạnh mẽ về cơ cấu kinh tế, xây dựng nông thôn mới, xoá đói giảm nghèo... Năm 2014, tốc độ tăng trưởng kinh tế tăng 8,2% so với năm 2013; tổng kim ngạch xuất nhập khẩu đạt trên 630 triệu USD; tổng vốn đầu tư toàn xã hội đạt trên 7.400 tỷ đồng; thu ngân sách đạt trên 1.177 tỷ đồng, sản lượng lương thực có hạt đạt trên 255.000 tấn, giá trị sản xuất nông nghiệp đạt trên 34 triệu đồng/ha. Cơ cấu kinh tế chuyển dịch đúng hướng, tăng tỷ trọng công nghiệp, xây dựng - dịch vụ. Tiềm năng thế mạnh từng bước được khai thác có hiệu quả, hạ tầng cơ sở được đầu tư mở rộng. Văn hoá - xã hội có nhiều chuyển biến đáng kể, quy mô, chất lượng giáo dục - đào tạo được nâng lên. Tỷ lệ hộ nghèo năm 2014 của tỉnh giảm 4,16%, Cao Bằng đã cơ bản thoát khỏi tình trạng đặc biệt khó khăn, đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân không ngừng được nâng cao. Năm 2012, thị xã Cao Bằng được công nhận là đô thị loại III; Khu di tích lịch sử Pác Bó và Khu di tích lịch sử rừng Trần Hưng Đạo được Thủ tướng Chính phủ quyết định xếp hạng là Di tích Quốc gia đặc biệt vào năm 2012 và năm 2014. 

40 năm qua, với những thành tích đã đạt được trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, phát triển KT - XH, tỉnh Cao Bằng đã vinh dự được Đảng, Nhà nước phong tặng danh hiệu Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân, Huân chương Sao vàng, Huân chương Hồ Chí Minh và nhiều phần thưởng cao quý khác. 

Theo Baocaobang.vn