Văn hóa cổ, đặc sắc người Lô Lô-hướng bảo tồn, phát huy (Kỳ I)

Đến huyện biên giới vùng sâu, vùng xa Bảo Lâm, Bảo Lạc hỏi thăm lãnh đạo huyện, Phòng Văn hóa - Thông tin và bà con về đặc sắc văn hóa miền Tây, chúng tôi được nghe: Nổi bật nhất là dân tộc Lô Lô ở nhà sàn gỗ trên núi cao, truyền đời múa và đánh trống đồng cổ từ nghìn năm, truyền miệng hát bài dân ca dài nghìn câu, bàn tay khéo léo nhuộm, dệt, thêu áo quần sặc sỡ... Tuy nhiên, đến nay vẫn chưa có công trình nghiên cứu xứng tầm để bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa đặc sắc của người Lô Lô.

Kỳ I: VĂN HÓA TRỐNG ĐỒNG GẮN KẾT CỘNG ĐỒNG LÔ LÔ

 

 
Khách đến nhà, người Lô Lô mời ngồi quây quần bên bếp lửa.

Theo ông Nguyễn Trung Thành, Trưởng Phòng Văn hóa - Thông tin huyện Bảo Lâm, nét văn hóa đặc sắc nổi bật nhất của người Lô Lô đến nay vẫn giữ là đánh trống đồng cổ nghìn năm trong dịp lễ linh thiêng làm ma khô (lễ lớn quan trọng nhất của người Lô Lô) với nhiều điệu múa dân vũ, dân ca mê lòng người. Bà con sống với văn hóa cổ xưa nhưng không dễ hiểu vì người Lô Lô quần tụ nơi rừng sâu, có ngôn ngữ riêng mà người ngoài tộc không hiểu.

 SẮC MÀU CUỘC SỐNG CỔ XƯA NƠI NÚI RỪNG

Muốn đến tìm hiểu văn hóa người Lô Lô rất khó vì họ sống trên núi cao, ngôn ngữ truyền khẩu trong cộng đồng. Ông Dương Tấn và Quan Hồng Tiềm (nguyên cán bộ Phòng Văn hóa - Thông tin Bảo Lâm) có 5 năm dày công tìm hiểu văn hóa người Lô Lô giới thiệu chúng tôi gặp ông Chi Viết Hải, Phó Chủ tịch UBND xã Hồng Trị (Bảo Lạc), người có uy tín bản Khuổi Khon, xã Kim Cúc (Bảo Lạc) để ông Hải đưa đi thăm bản, giao lưu với bà con Lô Lô.

Cùng ông Hải, chúng tôi đi theo  quốc lộ 34 sắp đến đoạn đường vào xã Kim Cúc thì rẽ trái. Ông Hải giới thiệu: Người Lô Lô sống trên núi cao, từ bản nhìn xuống dưới bao quát 5 tầng núi. Ngược dốc, núi chồng xếp lên núi như với lên trời cao xanh thẳm, Khuổi Khon hiện ra trước mắt chúng tôi như bức tranh kỳ công chạm khắc sắc màu cuộc sống từ bàn tay cần cù lao động của người Lô Lô. Trên núi cao xanh thẳm có những đường viền uốn lượn mềm mại từ ruộng bậc thang, thêm vào đó là màu nâu, đỏ, xanh non của đám nương rẫy xẻ ngang, dọc; mái nhà sàn dựa theo sườn núi như những cúc áo của chiếc áo khoác khổng lồ, nhiều họa tiết độc đáo. Người Lô Lô chọn nơi núi cao sinh sống vì thiên nhiên đẹp, hùng vĩ hay đó là khát vọng mãnh liệt chinh phục thiên nhiên để sinh tồn?!

Vào bản Lô Lô, từ nhà sàn, hàng rào, chuồng trại gia súc đều làm bằng đá, gỗ, cây mai, nứa khô. Đặc biệt, nhà sàn rộng 7 gian, lợp 4 mái đục đẽo, dựng rất công phu. Đến nhà ông Hải, vừa đặt chân lên chiếu nứa nhẵn bóng, nhưng vợ ông Hải vẫn cầm chổi quét lại cho sạch để tỏ lòng hiếu khách. Vợ, con gái, cháu trai ông Hải chạy ra đón, vồn vã nói: “Mời mọi người vào, ngồi cạnh bếp lửa uống nước” (đã được ông Hải dịch từ tiếng dân tộc Lô Lô). Bếp lửa củi cháy tý tách, tỏa khói lên gác bếp xếp đầy quả ngô, thịt lợn, thịt bò treo... Vợ, con gái ông Hải đi lại uyển chuyển với bộ trang phục Lô Lô quần chàm dài, áo ngắn, tay thêu 7 màu sặc sỡ, lấp lánh trang sức bằng bạc, hạt cườm...

Chị Duyên, con gái ông Hải (biết ít tiếng phổ thông) kể về cuộc sống hằng ngày: Vào mùa làm ruộng, nương rẫy, đàn ông băng rừng, phát cỏ cây làm nương rẫy, cày, bừa, chặt cây be bờ ruộng bậc thang; đàn bà gieo mạ, tra hạt ngô, lúa nương, cấy lúa... Xong vụ mùa, đàn ông lên rừng lấy củi, rào vườn, trồng rau, chặt cây mai, nứa đan chiếu..., trẻ con chăn bò, phụ nữ dệt vải, thêu may quần áo. Chị Duyên lấy cho tôi xem áo, mũ trẻ em, túi đựng trầu may, thêu tỷ mỉ và bảo: Phụ nữ Lô Lô không biết dệt vải, thêu, may bị đánh giá là vụng về, kém cỏi.

Câu chuyện râm ran bên bếp lửa và bát rượu ngô nồng nàn, chúng tôi dần hiểu người Lô Lô đến nay vẫn tạo dựng cuộc sống như cổ xưa chỉ bằng đôi chân khỏe leo núi chênh vênh, bước lên nhà sàn gỗ 9 bậc cầu thang, vai gùi vác nặng, đôi tay tháo vát, khéo léo và khát vọng sống tươi đẹp, giản dị.

TIẾNG TRỐNG ĐỒNG GẮN KẾT CỘNG ĐỒNG

Chiều xuống, nắng khuất dần sau dãy núi. Nhà nhà sáng bếp lửa, hắt ánh sáng đỏ như ngọn nến nhỏ huyền ảo giữa núi rừng già hoang vắng thâm u. Vì sao mỗi bản Lô Lô chỉ mấy chục mái nhà trên núi cao hoang sơ mà truyền đời gắn kết tạo dựng cuộc sống? Ông Hải cho biết: Từ khi tôi còn nhỏ đã nghe ông, bà kể người Lô Lô đen khi dựng nhà, lập bản đều tin rằng, mỗi bản đều có thần “Nềnh” (ma làng) cai quản. Nên nhà nhà đều thờ thần “Nềnh” vì thần có thể làm cho cả bản thịnh vượng, bình yên hay ốm đau, chết chóc... Ma lành là ma phù hộ, bảo vệ con người, nương rẫy, gia súc, làng bản; ma dữ hay ma gây ra tai họa, làm cho người ốm, bệnh, chết. Khi trong làng có người bị ốm hay nhiều gia súc dịch bệnh cả bản cùng nhau góp lễ vật tổ chức cúng thần “Nềnh”, hát bài cúng báo cáo thần để diệt tai nạn.

Đặc biệt, khi bản có người chết, mất đi một thành viên thì việc cúng “Ma khô” người chết sau khi đã chôn diễn ra rất đỗi linh thiêng. Mọi người quan niệm người chết tuy không còn sống với dân bản nhưng vẫn gắn kết linh hồn với mọi người để bảo vệ bản làng. Vì thế lễ làm “Ma khô” cho người chết rất quan trọng. Theo tục lệ phải đem nhiều đôi trống đồng cổ gồm trống “đực”- “cái” ra đánh mấy ngày, tiếng trống vang vọng khắp núi rừng để thần linh biết, làm cầu nối giữa cõi sống (dương) với cõi chết (âm), dẫn dắt linh hồn người quá cố về với nơi sinh tụ đầu tiên của tổ tiên.

Khi thầy cúng cất lời hát về quan niệm nhân sinh đưa tiễn người chết, trống đồng đánh vang lên thì gia đình, bản làng cùng múa nhiều bài uyển chuyển. Hiện nay, mỗi bản Lô Lô có khoảng 4 đến hơn 10 đôi trống đồng cổ, sau nghi lễ cúng “Ma khô” đem chôn xuống đất (trống thiêng không để lộ ra ngoài, chỉ có trưởng tộc biết), khi nào có đám “Ma khô” mới lại đào lên dùng. Bởi vậy mà trống đồng cổ hàng nghìn năm người Lô Lô vẫn còn lưu truyền đến bây giờ.

Vì cùng thờ thần “Nềnh”, giữ một tiếng trống đồng linh thiêng, nên người Lô Lô đã gắn kết cộng đồng vững chắc, tạo thành nét văn hóa riêng truyền đời qua các thế hệ trên đỉnh núi mờ sương.

XỨ SỞ CỦA LÀN ĐIỆU DÂN CA, DÂN VŨ VÀ LỄ HỘI

Tối đến, các cụ già trong bản đến nhà ông Hải chơi. Chúng tôi may mắn được nghe kể về bài hát dân ca, dân vũ, lễ hội người Lô Lô đen. Các cụ cho biết, xa xưa người Lô Lô có chữ viết trên da thú và gỗ, ghi lại những bài hát cúng tế, lễ của thầy cúng, nghi lễ..., nhưng nay mất dần, nếu còn không biết đọc. Mọi nghi lễ, hát dân ca..., người già nói lại cho người trẻ với ngôn ngữ riêng.

Cụ Phja kể: Người xưa bảo từ khi có trời đất, con người thì cũng có lời ca tiếng hát “Mồ co, mể tề, tềnh tềnh ló mể khá - có trời, có đất đã có dân ca”. Ngày cưới, lễ mừng thọ, lễ đặt tên con, mừng nhà mới, trai gái tìm hiểu tình yêu đôi lứa..., cũng hát dân ca. Đặc biệt, trong lễ “Ma khô”, thầy cúng đọc những bản trường ca dài bảy ngày đêm không hết, kết hợp với tiếng trống và những điệu múa uyển chuyển, nhịp nhàng. Có bài hát tình yêu “Lò mi fo” dài 2.000 câu là bài trường ca mang nội dung phong phú về tình yêu dành cho các đôi nam nữ hát đối nhau vào các dịp hội chợ 30/3 hoặc 15/8 âm lịch hằng năm.

Ngoài ra, người Lô Lô đen có bài hát mời khi có khách lạ vào làng. Nếu là con gái thì con trai hát mời, con trai thì con gái hát mời. Những cuộc hát đối ngày lễ thường đông người, hát cả đêm, chọn giọng hát hay, thay phiên nhau hát hoặc đặt thêm lời mới để người nghe được thưởng thức đan xen lời cũ và mới trong một đêm hát.

Lễ hội người Lô Lô đen rất độc đáo, có lễ cầu mưa, lễ thờ thần đá “Mề lồ Pỉ” để cầu mưa thuận gió hòa, cho mùa màng tốt tươi, bội thu; không được chặt cây, giữ rừng để đón Rồng thần về phun nước, bảo vệ bản làng, cho mọi người khỏe mạnh, hạnh phúc, không bệnh tật, sống lâu... Ngày lễ hội, thầy cúng là nhân vật quan trọng của bản. Vì thầy thay mặt dân làng đọc thuộc bài hát tế dài nghìn câu trong 2 - 3 ngày gửi lên thần linh, xin thần phù hộ cho bản làng.

Mùa lễ hội nhiều trò chơi cuốn hút lòng người. Trên những bãi đất trống đầu làng, trai, gái quấn quýt bên nhau chơi đánh yến. Tham gia có 4 người/4 góc/2 người chơi, quả yến chuyền đi chuyền lại trên tay đôi trai gái (quả yến làm bằng mo tre, cài lông gà khi tung lên tạo độ bay bổng). Trẻ em thì hò reo chia thành những nhóm, đem con quay đẽo bằng gỗ hình cái cối nhỏ, quấn vải quay xuống đất để đấu nhau...

Đêm khi mọi người rượu ngô ngấm, nồng nàn bên bếp lửa, các cụ hát cho chúng tôi nghe bài ca tình tứ, tha thiết của đôi lứa tìm nhau: Gặp anh em muốn chào/Nhưng lời ca có hạn/Lời ca anh thật hay/Sao anh không cất giọng/Cha ca đã thấy thương/Cha nhìn đã thấy mến/Tiếng ca anh đến đâu/Lời chứa chan đến đó...

 Hiện nay, dân tộc Lô Lô chỉ còn hơn 3.000 hộ, quần cư trên núi cao, vùng sâu, vùng xa biên giới tỉnh Cao Bằng, Hà Giang. Tại Cao Bằng chỉ còn 2.000 hộ người Lô Lô đen, sinh sống tại 4 xã: Đức Hạnh (Bảo Lâm), Cô Ba, Hồng Trị, Kim Cúc (Bảo Lạc). Đến nay, người Lô Lô vẫn giữ được văn hóa phong phú, đặc sắc từ lâu đời: Có ngôn ngữ riêng (chữ viết, tiếng nói riêng, dân ca dân vũ, lễ hội, không gian kiến trúc nhà sàn, trang phục, nghề thủ công...). Đặc biệt, còn giữ và đánh trống đồng cổ xưa truyền lại từ hơn 2.000 năm.
Theo Baocaobang.vn